Trang chủ |  Liên hệ
 Cấy chỉ Cao Thắng 
 
 Thời gian 
 Thành viên có mặt 
 Khách: 005
 Thành viên: 001
 Tổng cộng 006
 Hits 002405361

 Thống kê 
 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
 Thăm dò dư luận 
Bạn đến từ khu vực nào?

 Hà Nội
 Huế
 Quy Nhơn
 TP Hồ Chí Minh
 Một khu vực khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 427
Thảo luận: 3
Tìm Kiếm


_NSKEYWORD

 Tìm kiếm nâng cao 

Dịch Thuật công chứng Chứng thực tư pháp Dịch tiếng Anh Dịch tiếng Trung
Âm dương - Ngũ hành
09.12.2010 06:46

 

Học Thuyết Âm Dương

 

I. ĐỊNH NGHĨA

Cách đây gần 3000 năm, người xưa đã nhận thấy sự vật luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát triển và tiêu vong, gọi là học thuyết âm dương.

II. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG

1. Âm dương đối lập với nhau:

Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm dương. Thí dụ: ngày và đêm, nước và lửa, ức chế và hưng phấn.

2. Âm dương hỗ căn:

Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa. Cả hai mặt đều là quá trình phát triển tích cực của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được.

Thí dụ: có đồng hóa mới có dị hoá, hay ngược lại nếu không có dị hóa thì qúa trình đồng hoá không tiếp tục được. Có số âm mới có số dương. Hưng phấn và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.

3. Âm dương tiêu trưởng:

Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương.

Như khí hậu bốn mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh. Từ lạnh sang nóng là quá trình "âm tiêu dương trưởng", từ nóng sang lạnh là quá trình "dương tiêu âm " do đó có khí hậu mát, lạnh ấm và nóng.

Vận động của hai mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó sẽ chuyển hoá sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương, hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn" như trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước) hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải), tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến phần dương (như choáng, trụy mạch gọi là thoát dương).

4. Âm dương bình hành:

Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập lại được thế cân bằng, thế quân bình giữa hai mặt.

Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương biểu hiện cho sự phát sinh ra bệnh tật trong cơ thể.

Tóm lại 4 qui luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất.

Từ 4 quy luật trên, khi vận dụng vào y học người ta còn thấy một số phạm trù sau:

a) Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt âm dương:

- Sự đối lập giữa 2 mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó nó có tính tương đối. Thí dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương, nhưng lương (là mát) thuộc âm đối lập với ôn (là ẩm) thuộc dương. Trên lâm sàng tuy sốt (là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn sốt ít thuộc biểu dùng thuốc mát (lương).

b) Trong âm có dương và trong dương có âm:

Do âm dương cùng nương tựa với nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.

Như sự phân chia thời gian trong một ngày (24 giờ): ban ngày thuộc dương, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa là phân dương của dương. Từ 12 giờ đến 18 giờ là phân âm của dương; Ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ đến 24 giờ là phân âm của âm, từ 0 đến 6 giờ là phần dương của âm.

Trên lâm sàng khi cho thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt, cần chú ý tránh cho ra nhiều mồ hôi gây mất nước, điện giải; về triệu chứng thấy xuất hiện các chứng hư thực, hàn nhiệt lẫn lộn; về cấu trúc của cơ thể, tạng thuộc âm như can, thận có can âm (can huyết), can dương (can khí), thận âm (thận thuỷ), thận dương (thận hoả) vv…

c) Bản chất và hiện tượng:

Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.

Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự ”thật giả” (chân giả) trên lâm sàng khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúng nguyên nhân.

Thí dụ: Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao (chân nhiệt) do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn) phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh

Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng, ấm để chữa nguyên nhân.

Các quy luật âm dương và phạm trù của nó được biểu hiện bằng một hình tròn có hai hình cong chia diện tích làm hai phần bằng nhau: một phần là âm, một phần là dương. Trong phần âm có nhân dương và trong phần dương có nhân âm.

III. ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC

1. Về cấu tạo cơ thể và sinh lý:

Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới vv…

Dương: phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài vv..

Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên còn phân ra phế âm, phế khí, thận âm, thận dương: can huyết, can khí: tâm huyết, tâm khí: Phủ thuộc dương nhưng vì trong dương có âm nên có vị âm và vị hoả vv…

Vật chất dinh dương thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương.

2. Về quá trình phát sinh ra bệnh tật:

Bệnh tật phát sinh do sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể được biểu hiện bằng sự thiên thắng hay thiên suy:

  • Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ; âm thắng gây chứng hàn: người lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm, ỉa lỏng, nước tiểu trong vv…

  • Thiên suy: dương hư như trong các trường hợp lão suy hội chứng hưng phấn thần kinh giảm.

Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương. Như bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh) như sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước, bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh) như ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài mất nước, điện giải làm nhiễm độc thần kinh gây sốt, co giật thậm chí gây trụy mạch (thoát dương).

Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra các chứng bệnh ở vị trí khác nhau của cơ thể tuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương. Như: dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng, vì phần dương của cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt; âm thịnh sinh nội hàn; ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý, thuộc hàn.

  • Âm hư sinh nội nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ vv…

  • Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoại bị giảm sút.

3. Về chẩn đoán bệnh tật:

  • Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: Nhìn hoặc trông (vọng), nghe (văn) hỏi (vấn), xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.

  • Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tật, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh (biểu ly, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là hai cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hàn, hư thuộc âm.

  • Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương, bệnh tật được quy thành hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc vv…

4. Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh:

a) Chữa bệnh:

Là sự điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công vv…

b) Về thuốc được chia làm 2 loại:

  • Thuốc lạnh, mát, (hàn, lương) thuộc âm để chữa bệnh nhiệt thuộc dương.
  • Thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương, để chữa bệnh hàn thuộc âm.

c) Châm cứu:

  • Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
  • Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các du huyệt sau lưng (thuộc dương), bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các mộ huyệt ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “Theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

 

 HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

 

I - ĐỊNH NGHĨA

Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên.

Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát, quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý, bệnh lý của các tạng phủ; để chẩn đoán bệnh tật; để tìm tính năng và tác dụng thuốc và để tiến hành công tác bào chế thuốc.

II - NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

1. Ngũ hành là gì?

Người xưa thấy có 5 loại vật chính: kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất). Và đem các hiện tượng trong thiên nhiên và trong cơ thể con người xếp theo 5 loại vật chất gọi là ngũ hành. Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hoá của các vật chất trong thiên nhiên và của phủ tạng trong cơ thể.

2. Sự quy loại ngũ hành trong thiên nhiên và cơ thể con người:

Hiện tượng

Ngũ hành

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Thuỷ

Vật chất

Gỗ, cây

Lửa

Đất

Kim loại

Nước

Màu sắc

Xanh

Đỏ

Vàng

Trắng

Đen

Vị

Chua

Đắng

Ngọt

Cay

Mặn

Mùa

Xuân

Hạ

Cuối hạ

Thu

Đông

Phương

Đông

Nam

Trung ương

Tây

Bắc

Tạng

Can

Tâm

Tỳ

Phế

Thận

Phủ

Đớm

Tiểu đường

Vị

Đại trường

Bàng quang

Ngũ thể

Cân

Mạch

Thịt

Da lông

Xương tuỷ

Ngũ quan

Mắt

Lưỡi

Miệng

Mũi

Tai

Tình chí

Giận

Mừng

Lo

Buồn

Sợ

3. Các quy luật hoạt động của ngũ hành:

a) Trong điều kiện bình thường hay sinh lý: vật chất trong thiên nhiên và các hoạt động của cơ thể liên quan mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng bằng cách tương sinh (hành nọ sinh hành kia, tạng nọ sinh tạng kia) hoặc chế ước lẫn nhau để giữ được thế quân bình bằng cách tương khắc (hành hoặc tạng này chế ước hành hoặc tạng kia).

b) Quy luật tương sinh: mộc đốt cháy sinh ra lửa (hoả); lửa thiêu mọi vật thành tro bụi, thành đất (thổ); trong lòng đất sinh kim loại (kim), là thể rắn chắc; thể rắn chắc sinh thể lỏng nước (thủy); có nước sinh ra cây cối (mộc). Như vậy; mộc sinh hoả, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.

c) Quy luật tương khắc: Mộc khắc thổ như rễ cây ăn sâu vào lòng đất, thổ khắc thủy như đắp đê, đắp đất trị thủy ngăn sông; thủy khắc hỏa để chữa cháy; hoả khắc kim để nấu kim loại, kim khắc mộc dùng dụng cụ kim loại để cưa, chặt gỗ.

Trong cơ thể con người: can mộc khắc tỳ thổ; tỳ thổ khắc thận thủy; thận thuỷ khắc tâm hoả; tâm hoả khắc phế kim; phế kim khắc can mộc.

 

Trong điều kiện bất thường hay bệnh lý, có hiện tượng hành nọ, tạng nọ khắc hành kia, tạng kia quá mạnh gọi là tương thừa hoặc hàn nọ, tạng nọ không khắc được hành kia, tạng kia gọi là tương vũ.

Thí dụ về tương thừa: bình thường can mộc khắc tỳ thổ, nếu can khắc tỳ qúa mạnh sẽ gây hiện tượng đau dạ dày, ỉa chảy do thần kinh, khi chữa phải bình can (hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (nâng cao sự hoạt động của tỳ).

Thí dụ về tương vũ: bình thường tỳ thổ khắc thận thủy, nếu tỳ không khắc được thận thủy sẽ gây ứ nước như trong bệnh ỉa chảy kéo dài gây phù dinh dưỡng, khi chữa phải kiện tỳ (nâng cao sự hoạt động của tỳ) và lợi niệu (để làm mất phù thũng).

III. ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC

1. Về quan hệ sinh lý:

Sự sắp xếp các tạng phủ theo ngũ hành và liên quan của chúng đến ngũ vị, ngũ sắc, ngũ quan, thể chất và hoạt động về tình chí giúp cho ta học về các hiện tượng sinh lý, các tạng phủ dễ dàng, dễ nhớ:

Thí dụ: Can có quan hệ biểu lý với đởm, chủ về cân, khai khiếu ra mắt, tính thích điều đạt uất kết gây giận dữ…

2. Về quan hệ bệnh lý:

Căn cứ vào ngũ hành tìm vị trí phát sinh một chứng bệnh của một tạng hay một phủ nào, để đề ra phương pháp chữa bệnh thích hợp.

Sự phát sinh ra một chứng bệnh ở 1 tạng phủ nào đó có thể xảy ra ở 5 vị trí khác nhau:

  • Chính tà: do bản thân tạng phủ ấy có bệnh.

  • Hư tà: do tạng trước nó gây ra bệnh cho tạng đó, còn gọi là bệnh từ con truyền sang mẹ.

  • Vi tà: do tạng khắc tạng đó mà gây ra bệnh (tương thừa).

  • Tặc tà: do tạng đó không khắc được tạng khác mà gây ra bệnh (tương vũ).

Thí dụ: mất ngủ là một chứng bệnh của tâm có thể xảy ra ở 5 vị trí khác nhau và cách chữa cũng khác nhau.

  • Chính tà: bản thân tạng tâm gây ra mất ngủ: như thiếu máu không nuôi dưỡng tâm thần. Khi chữa bệnh phải bổ huyết an thần.
  • Hư tà: do tạng can gây bệnh cho tâm như cao huyết áp gây mất ngủ. Khi chữa phải bình can (hạ huyết áp) an thần.
  • Thực tà: do tạng bị hư, không nuôi dưỡng được tâm thần. Khi chữa phải kiện tỳ an thần
  • Vi tà: do thận âm hư không khắc được tâm hoả gây mất ngủ. Khi chữa phải bổ âm an thần.
  • Tặc tà: do phế âm hư ảnh hưởng đến tâm huyết gây mất ngủ. Khi chữa phải bổ phế âm an thần.

3. Về chẩn đoán học:

Căn cứ vào những triệu chứng về ngũ sắc, ngũ vị, ngũ quan, thể chất để tìm bệnh thuộc các tạng phủ liên quan.

a) Ngũ sắc: sắc vàng bệnh thuộc tỳ; sắc trắng bệnh thuộc phế; sắc xanh bệnh thuộc can; sắc đen bệnh thuộc thận.

b) Ngũ chí: giận dữ, cáu gắt bệnh ở can, sợ hãi bệnh ở thận, huyên thuyên bệnh ở tâm; lo nghĩ bệnh ở tỳ; buồn rầu bệnh ở phế.

 


 

Tính Chất Của Ngũ Hành



Hành Mộc gọi là Phu Hòa, vì nó phân bố ra khí ôn hòa làm cho vạn vật được nẩy sinh tươi tốt.

Hành Hỏa gọi là Thăng Minh, có nghĩa là bừng sáng, có khí thịnh trưởng làm cho vạn vật được phát triển.

Hành Thổ gọi là Bị Hóa, vì nó đầy đủ khí hóa sinh vạn vật, làm cho vạn vật được đầy đủ hình thể.

Hành Kim gọi là Thẩm Bình, vì nó phát ra khí yên tĩnh, hòa bình, làm cho vạn vật kết quả.

Hành Thủy gọi là Tĩnh Thuận, vì có khí tĩnh mà nhu thuận làm cho vạn vật được bế tàng, gìn giữ.

Quan hệ tương sinh nghĩa là giúp cho nhau lớn hoặc sinh ra nhau. Quan hệ tương khắc là ức chế, làm thiệt hại nhau, nhưng phải biểu hiện cái ý quân bình và giữ gìn lẫn nhau giữa các Hành. Quan hệ tương sinh và tương khắc nếu thái quá lại làm cho sự biến hóa bị trở ngại khác thường thành ra thái quá hoặc bất cập.

Hành Mộc bất cập được gọi là Ủy Hòa, nghĩa là thiếu khí ôn hòa sẽ làm cho vạn vật rũ rượi, không phấn chấn.

Hành Hỏa bất cập được gọi là Phục Minh, nghĩa là thiếu khí ấm áp làm cho vạn vật ảm đạm, không sáng.

Hành Thổ bất cập gọi là Ty Giám, nghĩa là không có khí hóa sinh, sẽ làm cho vạn vật yếu ớt, không có sức.

Hành Kim bất cập gọi là Tòng Cách, nghĩa là không có khí thu liễm, làm cho vạn vật trở nên mềm giãn, không có sức đàn hồi.

Hành Thủy bất cập gọi là Hạc Lưu, nghĩa là không có khí phong tàng dấu kín, làm cho vạn vật bị khô queo.

Hành Mộc thái quá thì gọi là Phát Sinh, do sự khuếch tán khí ôn hòa quá sớm, làm cho vạn vật sớm phát dục.

Hành Hỏa thái quá gọi là Hách Hy, do khuếch tán hỏa khí mãnh liệt, làm cho vạn vật nóng nảy chẳng yên.

Hành Thổ thái quá gọi là Ðơn Phụ, do có khí nồng hậu rắn chắc, làm cho vạn vật không thể thành hình.

Hành Kim thái quá gọi là Kiên Thành, do có khí cứng cỏi làm cho vạn vật ngay thẳng, không có sức nhu nhuyễn.

Hành Thủy thái quá gọi là Lưu Diễn, do có khí đầy tràn làm cho vạn vật phiêu lưu không thể về chỗ.

Do đó 2 hệ thống tương sinh và tương khắc không tồn tại đơn độc, biệt lập. Trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh và ngược lại, để vạn vật cùng tồn tại và phát triển. Bởi vì vũ trụ không thể có sinh mà không có khắc, không thể có khắc mà không có sinh. Không có sinh thì vạn vật không nảy nở, không có khắc thì sự phát triển quá độ sẽ có hại.

Âm Dương Ngũ Hành
























 
Ngũ Hành Tương Sinh Và Tương Khắc


 
 







 
Thiên Can Tương Sinh Và Tương Khắc

 


 
Dương






 
Âm 





 

Mười Thiên Can Ngũ Hợp




 






Mười Hai Ðịa Chi Lục Hợp




 








Mười Hai Ðịa Chi Tương Xung




 








Mười Hai Ðịa Chi Tương Hại




 











thangdongy



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
KÍNH BÁO [03.02.2011 18:59]
Các vị thuốc Đông y [16.12.2010 23:51]
Thập nhị kinh lạc [16.12.2010 21:42]
Mạch lý Đông y [09.12.2010 04:00]
Y lý Đông y [09.12.2010 02:20]
Dược lý đông y [09.12.2010 00:10]
Nhạc tuyển [05.12.2010 17:25]



Lên đầu trang
 Danh mục Website 

 

  - Giới thiệu

 

  - Phòng chẩn trị YHCT Cao Thắng

 

  - Phương pháp cấy chỉ

 

  - Video Cấy chỉ

 

  - Tìm hiểu về bệnh trĩ

 

  - Danh sách bệnh nhân điều trị trĩ có kết quả tốt

 

  - Âm dương - Ngũ hành

 

  - Y lý đông y

 

  - Mạch lý đông y

 

  - Dược lý đông y

 

  - Phương thang đông y

 

  - Các vị thuốc Đông y

 

  - Thuốc nam, thuốc bắc

 

  - Thập nhị kinh lạc

  - Danh y

  - Nhật ký phòng khám.

 

  - Các ca bệnh hay.

 

  - Liên hệ

 

 

 


 Lịch 
Tháng
Năm 

 Liên kết Website 
 


 Tin mới 
CẤY CHỈ CHỮA LIỆT CÁNH TAY DO TAI NẠN GIAO THÔNG
CẤY CHỈ HUYỆT ĐẠO ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC NHIỀU BỆNH NAN Y, MÃN TÍNH
CẤY CHỈ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HOẠI TỬ CHỎM XƯƠNG ĐÙI
CẤY CHỈ CHỮA LIỆT CÁNH TAY DO THOÁI HÓA ĐỐT SỐNG CỔ
Ảnh sum họp gia đình họ Cao , ngày chạp mộ Bà,Thanh minh 2012
CHUC MUNG NAM MOI NHAM THIN 2012
Cấy chỉ chữa liệt 7 ngoai biên
O2tv
Cấy chỉ phục hồi chức năng sau tai biến
cấy chỉ PHCN do thoái hóa cột sống
Khám bệnh tại phòng chẩn trị Cao Thắng
cấy chỉ
Truyền hình Hà nội . MÃN KINH. CẤY CHỈ. HN1.QUÁCH TUẤN VINH
VOV - Bí quyết khỏe & đẹp cùng cấy chỉ
Bs.Lê Thúy Oanh cấy chỉ tại Hunggari

Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email